1.Khái niệm
1.1. Hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hóa được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo quy định tại Điều 428 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho cho bên bán”.
Luật Thương mại năm 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa. Tuy nhiên khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 có quy định: “Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận”.
Qua các quy định trên, ta có thể hợp đồng mua bán hàng hóa trong luật thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản.
1.2. Hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu
Hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu là hợp đồng không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định nên không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Khi đấy các chủ thể tham gia không phải thực hiện điều khoản đã ký kết trong hợp đồng, không phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường do không thực hiện hợp đồng.
2.Hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu tuyệt đối
Một giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu tuyệt đối trong các trường hợp sau:
– Khi vi phạm vào các điều cấm của pháp luật, trái đạo đức của xã hội; (Điều 123 BLDS năm 2015)
– Khi giao dịch được xác lập một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác; (Điều 124 BLDS năm 2015)
– Khi hình thức giao dịch không tuân thủ theo các quy định bắt buộc của pháp luật; (Điều 129 BLDS năm 2015)
Hợp đồng mua bán hàng hóa không tuân thủ các quy định bắt buộc của pháp luật theo quy định tại Điều 24 Luật Thương mại năm 2005:
“1. Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.
2.Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó.”
– Khi giao dịch của pháp nhân xác lập vượt ra ngoài lĩnh vực hoạt động được cho phép, đăng ký.
Vậy có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu tuyệt đối là những hợp đồng mà nội dung các điều khoản, đối tượng được ghi trong hợp đồng và hình thức của hợp đồng vi phạm quy định của pháp luật. Sự vi phạm này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến quyền, lợi ích chung của các chủ thể khác trong xã hội. Vì thế mà hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu tuyệt đối mặc nhiên vô hiệu mà không cần thông qua các thủ tục tố tụng tuyên bố vô hiệu của Tòa án.
3.Hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu tương đối
Một giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu tương đối trong các trường hợp:
– Khi giao dịch được xác lập bởi người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người mất năng lực hành vi dân sự. (Điều 125 BLDS năm 2015)
– Khi giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn. (Điều 126 BLDS năm 2015)
– Khi một bên chủ thể tham gia xác lập giao dịch do bị lừa dối, đe dọa. (Điều 127 BLDS năm 2015)
– Khi người xác lập giao dịch không nhận thức được hành vi của mình. (Điều 128 BLDS năm 2015)
Như vậy, sự vô hiệu tương đối là ở chỗ: hợp đồng mua bán hàng hóa đó có thể vô hiệu hay không đương nhiên bị xem là vô hiệu vì các điều khoản trong loại hợp đồng này chỉ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhóm chủ thể tham gia (bên bán và bên mua) hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của nhóm chủ thể khác có liên quan. Do đó hợp đồng này nếu không có sự xem xét của Tòa án thì vẫn có hiệu lực. Trong các trường hợp muốn hủy hợp đồng, các bên phải yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tư pháp thông thường mà hợp đồng không đương nhiên bị xem là vô hiệu.
4.Sự khác nhau
Về nguyên nhân dẫn đến hợp đồng bị vô hiệu: hợp đồng vô hiệu tương đối do vi phạm điều kiện về năng lực chủ thể, về sự tự nguyện của các bên. Đối với vô hiệu tuyệt đối thì lại do hợp đồng mua bán hàng hóa đó vi phạm về nội dung và mục đích của các bên tham gia giao kết hợp đồng.
Về trình tự vô hiệu của hợp đồng, nếu như hợp đồng vô hiệu tuyệt đối mặc nhiên được coi là vô hiệu. Nói cách khác, hợp đồng vô hiệu ngay cả khi không có quyết định của Tòa án thì hợp đồng vô hiệu tương đối cần phải thông qua quyết định của Tòa án và khi có yêu cầu của người tham gia giao kết hợp đồng hoặc yêu cầu của các bên có liên quan.
Về hiệu lực pháp lý của hợp đồng, hợp đồng vô hiệu tuyệt đối không có hiệu lực pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao kết hợp đồng, ngay cả khi các bên đã thực hiện một phần của hợp đồng thì cũng được khôi phục lại tình trạng ban đầu. Còn hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu tương đối thì vẫn có hiệu lực pháp lý cho đến khi hợp đồng mua bán hàng hóa bị tuyên bố vô hiệu.
Quý Khách hàng nếu cần tư vấn, giải đáp chi tiết hơn cũng như cách thức tiếp cận dịch vụ này, vui lòng liên hệ trực tiếp với Luật sư Nguyễn Đức Trọng qua hotline: 0912.35.65.75, gọi điện đến Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6575 hoặc gửi yêu cầu dịch vụ qua email: info@hongbanglawfirm.com.
Chúc Quý Khách hàng cùng gia đình mạnh khỏe, an lạc và thành công!
Trân trọng!
Công ty Luật Hồng Bàng.